Đầu báo khói buồng Ion 1412B thật sự chấm dứt sản xuất đúng hay sai ?

Bài viết này là câu trả lời chính thức về đầu báo khói loại buồng ion hoá 1412B của hãng System Sensor USA ,cho thị trường Việt Nam. Sau khi antoanvn.com đăng bài viết đề cập đến việc hãng System Sensor thông báo chính thức đã ngưng sản xuất sản phẩm 1412B kể từ đầu năm 2011 .Khi nói đến tiêu đề trện ,người đọc sẽ nảy sinh thắc mắc , ví dụ như :

  • Đầu báo khói 1412B đã và đang được sử dụng rộng rãi, tại sao nhà sản xuất lại ngưng không sx tiếp, mà như vậy sẽ bị mất lợi tức rất lớn vì 1412B đã được bán rông rãi toàn cầu ? đáng lẽ phải tăng cường sản xuất mới đúng chứ?
  • Ai cũng có thể tự mình viết blog và “hô-hoán” lên thông tin mới-cũ này-nọ? vậy thông tin này có gì chứng minh là tin xác thực, là thông tin có thật hay không?

CÂU TRẢ LỜI TỔNG QUÁT VỀ 1412B

Nếu bạn là đơn vị kinh doanh chuyên ngành báo động báo cháy hoặc nếu bạn đã từng đọc qua bài viết chuyên đề về đầu dò báo khói buồng ion có phóng xạ ;thì bạn biết ngay nguyên do cốt yếu nhất về việc hãng System Sensor ngưng sx đầu báo khói loại buồng ion cụ thể là sản phẩm 1412B.

  • Như vậy , về câu trả lời thì antoanvn.com không cần giải thích nhiều hơn mà nguyên do là buồng ion có phóng-xạ , theo qui ước quốc tế đã bị giơi hạn gần như là cấm sản xuất vì có thể gây nguy hại cho môi trường sống và con người đối với các đầu dò khói buồng ion hóa gọi tên là ICSD.(Ionization Chamber Smoke Detector)
  • CÁC THÔNG TIN MINH CHỨNG XÁC THỰC TỪ NHIỀU NGUỒN GỐC.

    Trước hết , antoanvn.com xin nhắc lại một ít về các qui định của luật pháp Vương-Quốc-Anh liên quan đến bức xạ ion hoá.

    • IRR99 Ionising Radiation Regulations ký năm 1999, về bảo toàn và giới hạn mức độ bức xạ khi tiếp cận làm việc với chất phóng-xạ từ Ion.Đến tháng 01 năm 2005 ,IRR99 được bổ sung điều 13 về bức-xạ nghiêm- ngặt buộc các nhà máy sx,người lao động, người làm việc về lãnh vực chế tạo đầu dò khói buồng ion hóa phải có sử dụng dịch vụ của một chuyên viên cố vấn bảo vệ về bức xạ Radiation Protection Adviser (RPA) nhằm đảm bảo an toàn cho con người và môi trường .Điều này ,ngoài tính chất khắt khe của pháp lý thì các chủ nhà máy sx phải tiêu tốn khoản chi phí rất lớn để thuê mướn các RPA thực hiện qui định.

     

    • Tiếp theo ,REPPIR2001 Radiation (Emergency Preparedness and Public Information)Regulations 2001,JPIIR04 (Justification of Practices involving Ionising Radiations 2004), thực hiện các tiêu chuẩn an toàn cơ bản để bảo vệ sức khỏe của người lao động và công chúng nói chung chống lại những mối nguy hiểm tiềm-tàng có phát sinh từ bức xạ ion hóa .
    • Như vậy , từ sau năm 2005 tại Vương -Quốc-Anh các nhà sx đầu dò khói buồng ion phải tuân thủ và thực hiện “Chương trình bảo vệ về Bức xạ” RRP Radiation protection programme trong nhà máy , trong vận chuyển, trong tiêu-huỷ sản phẩm…nói chung là một gánh nặng quá lớn khi sx đầu báo khói loại buồng Ion hoá.Sau đó , năm 2010 các qui định và chương trình trên đã nâng lên cấp độ toàn cầu.

    Lý do để nhà sãn xuất hàng đầu thế giới System Sensor ngưng sx đầu dò buồng ion 1412B coi như đã rõ , và đầu dò báo khói loại quang-học,tia laser, hoặc các loại kết hợp khói-nhiệt là sản phẩm thay thế cho 1412B là điều tất yếu .


    THÔNG BÁO CỦA HONEYWELL VỀ 1412.

    Antoanvn.com đưa lên bài viết hình minh hoạ kèm theo đường dẫn để tại tập tin từ nguồn chính thức ,để chứng tỏ nguồn thông tin là xác thực. Trong thư thông báo , nhà cung cấp FIRESENSE của Úc đã đưa thông tin trích theo thư thông báo chính thức từ hãng Honeywell với thương hiệu nổi tiếng về báo cháy toàn cầu Notifier ( là chủ tập đoàn sx chuyên ngành báo động báo cháy trong đó có cả nhà sx System Sensor ) có ghi rõ : từ năm 2007 sẽ chấm dứt sản xuất và cung cấp sản phâm đầu báo khói buồng ion 1412B ,cùng serie 1400 và 1424. Notifier cũng đề xuất một sản phẩm thay thế khác ,số ký hiệu khác nhưng vẫn tương tự đầu báo khói quang học E2 serie mà System Sensor đề nghi thay thế.(đề cập trong bài trước)

    • Notifier – Honeywell là tập đoàn Anh Quốc , do vậy thư thông báo này đề cập năm 2007 là phù hợp với qui định của Vương Quốc Anh áp dụng sau năm 2005.(cuối bài có danh mục các đối tác trực thuộc của Honeywell để biết Honeywell uy tín và các thông báo họ ký đều có giá trị thật sự ).
    • Riêng với System Sensor USA , theo qui định quốc tế đến năm 2010 mới áp dụng , do vậy thời điểm ngưng sx đầu báo khói 1412B của System Sensor là 2011 , xác định thông tin hoàn toàn chính xác.


    BẢNG DANH MỤC ,DANH SÁCH THIẾT BỊ NGƯNG SẢN XUẤT CỦA Fire-Lite-Alarms

    Cũng là một nhà cung cấp nổi tiếng thế giới , trang web có danh mục các sản phẩm được Fire-Lite-Alarms liệt vào là “Sản phẩm Di Sản” (legacy products) , trong đó cũng có ghi 1412B ngưng sx cùng nằm trong danh sách này.

    Hầu hết các nhà cung cấp có uy tín toàn cầu đều thông báo 1412B không còn sx , vậy bạn nên tin vào các nguồn thông tin chính thức đẳng cấp toàn cầu,hay nghe vài lời giới thiệu là có “nguồn hàng riêng biệt?”. Nhà máy chính gốc không sx thì nguồn hàng này không cần biết xuất xứ ,chỉ biết là không phải do System Sensor sản xuất là đủ hiểu ,không cần phải là người am hiểu chuyên nghiệp .

    System Sensor E2 Serie smoke detector 2412/24E

    E2 serie model 2412/24E đầu dò khói quang học thay thế cho đầu dò ion 1412B ,hai loại đều của System Sensor.

    SYSTEM SENSOR.COM ĐĂNG THÔNG BÁO “1412B DISCONTINUED” .

    Trở lại với nhà sản xuất chính của đầu báo khói buồng ion ,System Sensor Model: 1412B trang web đăng thông tin thật rõ ràng về việc ngưng không còn sản xuất loại này, đây là link của trang thông báo. Hình ảnh thì ngay trên đầu bài bạn đã thấy rõ.

    • Do vậy , nếu bạn bắt gặp trên thị trường VN ,có nơi có hàng “mới nhập” 1412B , chúng tôi chỉ khuyến nghị các bạn là xem xét kỹ lưỡng nếu bạn am-hiểu về các loại đầu dò báo cháy để quyết định “mua hay không?”. Còn nếu bạn chưa rành rẽ các loại thiết bị báo cháy , chúng tôi đề nghị bạn không nên mua dù với bất cứ lý do giải thích hoặc lời bảo đảm gì từ người bán.

    Ngay cả trang mua bán trên mạng như eBay.com cũng đăng 1412B discontinued

    Notifier cũng đang cung cấp đầu báo khói quang học Serie E2 của System Sensor.

    Honeywell và các đối tác trực thuộc ( đều có câu by honeywell phía sau tên của cty đối tác.)

    EV100 Cảm biến phát hiện đột nhập mới của UTC & Fire Security.

    Image

    Với sản phầm đầu dò phát hiện chuyển động chống trộm trong nguồn của GE InterlogiX ,Aritech hàng đầu thế giới đã được dùng tại Việt Nam , antoanvn giới thiệu với thông tin mới chính thức từ tập đoàn  UTC & Fire Security (UTCFS)  về sản phầm EV100. Bạn cần biết và phân biệt thật sự về đầu dò hồng ngoại EV100 mới , sản xuất từ đối tác trực thuộc của GE là Aritech Anh Quốc.

    EV100 hiện nay được UTCFS chính thức đưa ra vói loại “Gliding Curtain Mirror Optics” thuộc dòng RCR (Radar Range Control) và kỹ thuật 5D từ cải tiến của 4D đã biết trước đây.

    Trong một bài viết trước trên antoanvn.com , đã đề cập về đầu dò PIR của SIEMENS sản xuất từ nhà máy âu-châu Thuỵ Sĩ như loại IR100B cũng có áp dụng mặt kính gương trượt (Gliding mirror) nhưng không kèm tính năng tập trung tia (Focus) như loại của GE UTCFS dưới đây.

    Khi có nhu cầu cần mua EV100 đúng chủng loại ,kèm theo hướng dẫn lắp đặt đúng kỹ thuật bằng tiếng Việt xin liên hệ :Antoanvn@gmail.com hoặc gọi số:  0932020451

    Sức mạnh của chính xác với gương trượt quang học tập trung

    UTC Fire & Security (UTCFS) đã phát triển PIR với mặt kính dùng với gương trượt quang học tập trung ,được công nhận sự tiên tiến và tinh vi nhất với bằng sáng chế dành cho các cảm biến tia hồng ngoại  phát hiện chuyển động là sản phẩm hàng đầu thế giới trong ngành công nghiệp an ninh bảo mật . Kết hợp với kỹ thuật phân tích và xử lý tín hiệu độc đáo duy nhất hiện nay, sản phẩm PIR EV100 của UTCFS được nhân đôi vè mức độ ổn định áp dụng trong các môi trường khắc nghiệt hơn và nâng cao độ nhạy cảm về phát hiện làm cho PIR đáng tin cậy hơn. Kết hợp hai kỹ thuật tốt nhất của cả hai công nghệ , UTCFS đã phát triển kỹ thuật “Tia theo bước tập trung” và công nghệ “quang học tập trung gương trượt” vào chung trong một thiết kế mặt kính gương,cho ra kết quả là một hệ thống phát hiện chuyển động mạnh mẽ nhất về quang đa-năng (hybrid system -lai-tạo giữa nhiều kỹ thuật).

    Với nguyên tắc “tập trung trượt ” chính yếu, mỗi rãnh của gương là một phân đoạn nhân lên để tạo ra như một bức màn liên tục tia phát hiện. Điều này tạo ra việc thu nhận tín hiệu như các điểm chốt liên tục “trượt” từ một tiêu cự tập trung có độ dài gần nhất (undercrawl) đến một độ dài nhất (tầm xa), mọi thay đổi từ mục tiêu được so sánh và phân tích theo kỹ thuật 5D ,giúp cho việc xử lý tín hiệu kiểm soát chính xác mặt gương toàn diện từ trên xuống dưới.( xem hình minh hoạ)


    Radar Range Control  ( Công nghệ của UCFS và GE )

    Radar Range Control (RCR) là câu trả lời khi các loại PIR khác không có khả năng đáp ứng.  Với công nghệ cảm biến kép truyền thống (Dual Technology) , báo động sai từ các nguồn bí ẩn – thường có ở các văn phòng , như cây cối đong-đưa bên ngoài các cửa sổ, dịch chuyển ánh sáng từ đường giao thông, vv – có thể tạo ra báo giả liên tục như một cơn ác mộng cho người lắp đặt và khách hàng sử dụng. RCR loại bỏ vấn đề này với phạm vi kiểm soát chính xác và độ chính xác kiẻu radar. Lắp đặt PIR loai RCR với sự tự tin nhất- không chỉ là bảo vệ người sử dụng từ  các kẻ xâm nhập, đồng thời tránh khỏi các báo động sai lạc ,giúp bảo vệ uy tín của người lắp đặt hệ thống báo động phòng chống trộm.

    Các PIR có tính năng RCR-C ( EV700 ) là hoàn hảo cho các ứng dụng bảo mật cao yêu cầu bảo vệ tàng hình và độ chính xác phạm vi. Lắp đặt một PIR trong chế độ vi sóng (microwave) duy nhất đằng sau tấm rèm hoặc vách tường để dấu kính sự bảo vệ tốt hơn.

    Hiệu quả tất cả các nơi mà hầu hết các đầu dò PIR công nghệ dual Techology trước đây không có.

    RCR là  kỹ thuật mới không giống như bất kỳ công nghệ cảm biến kép truớc đây (dual techology). Kỹ thuật này kết hợp radar và công nghệ PIR cung cấp cho người dùng sự bảo đảm chính xác, phát hiện chính xác và khả năng triệt tiêu các báo động sai,báo động giả vượt trội hơn trước đây. Công nghệ cảm biến kép truyền thống có thể tạo ra các báo động sai do sự gia tăng vượt ra ngoài khu vực của vi-sóng cao tần và tạo lỗ hổng phía sau PIR. đôi khi tệ hơn, do nguyên nhân này PIR có thể không phát hiện vì độ nhạy cảm đã bị sút giảm. RCR – là cảm biến cuối cùng để sử dụng khi các lựa chọn dùng PIR khác đã bị thất bại.PIR đồng thời có mặt kính dạng quang học tốt hơn, hiệu suất tốt hơn., cảm biến nhận biết các chuyển động.


    UTCFS và sản phẩm tia hồng hoại mặt gương trượt với tia màn
    Được công nhận :

    UTCFS với PIR EV100 mặt kính độc đáo “Gliding Focus” gương trượt quang học  tập trung có thể cung cấp tia IR mịn hơn , tập trung vào mục tiêu liên tục và tự động phân tích phát hiện trong toàn bộ phạm vi kiểm soát.Tự động lấy nét , tự chỉnh độ nhạy cảm liên tục mà không cần điều chỉnh bằng tay,tuyệt đối ổn định  không mất độ nhạy cảm trong bất kỳ điều kiện khắc nghiệt nào.

    Hầu hết các cảm biến yêu cầu bạn phải giảm bớt mức chỉnh nhạy cảm nếu chúng được đặt trong một khu vực nhỏ hơn phạm vi quy định của đầu dò. Ví dụ đặt một đầu dò PIR 12m là loại thông dụng được lắp đặt trong một căn phòng 6m sẽ yêu cầu thiết lập cài đặt để giảm bớt độ nhạy nhằm tránh báo động sai lầm. Bị buộc phải giảm xuống độ nhạy cũng là trực tiếp làm giảm khả năng của các PIR để phát hiện chuyển động của con người đặc biệt trong thu thập dữ liệu. Kết quả là cách cài đặt này giảm bớt khả năng báo động giả, nhưng làm giảm đáng kể về hiệu quả  của khả năng phát hiện những kẻ xâm nhập.

    Công nghiệp cảm biến kỹ thuật phân tích xử lý hàng đầu thế giới
    Kỹ thuật 4D và 5D Digital Signal Processing

    Cảm biến hồng ngoại với Kỹ thuật xử lý  5D

    1. 1D Shape ( hình dạng )
    2. 2D Duration ( thời gian )
    3. 3D Speed  ( Tốc độ )
    4. 4D Size  ( Kích cỡ )
    5. 5D Environment ( Môi trường )

    PIR với kỹ thuật 4D xử lý tín hiệu IR thông minh theo kênh để  phân tích một mô hình tín hiệu và qua đó phân biệt giữa chuyển động của con người thực sự và nguy cơ báo động giả. Các PIR hoạt động theo kênh nhằm nâng cao khả năng chống báo động giả bằng cách phân tích kích thước, hình dạng và tốc độ của các tín hiệu kế tiếp. 4D có sẵn trong hầu hết các cảm biến chuyển động của UTCFS.

    Xử lý tín hiệu kỹ thuật 5D

    Kỹ thuật 5D là thế hệ mới nối tiếp và xây dựng dựa trên những thế mạnh của 4D, kỹ thuật mới này cho biết thêm một sự khác biệt thông minh giữa các tín hiệu di chuyển nhanh và chậm. Khi một nguồn nhiệt chậm được phát hiện, mạch xử lý tín hiệu tự động chuyển sang chế độ 5D và thực hiện mô hình công nhận bổ sung để phân biệt tín hiệu từ một người đi bộ chậm. Nếu tín hiệu phù hợp, PIR xác nhận đúng là một kẻ xâm nhập và cảnh báo sẽ được kích hoạt. Nếu việc xử lý xác nhận là không phù hợp, tín hiệu sẽ được bỏ qua,

    EV100 với kỹ thuật 5D bảo đảm sự tin cậy với các tín hiệu nhận diện chẳng hạn như sự di chuyển từ  phản chiếu của ánh sáng mặt trời sẽ hoàn toàn được lọc ra. Kết quả là một sự kết hợp độc đáo của các phát hiện độ nhạy cao khả năng triệt tiêu cao với các báo động giả mà không có sự cần thiết phải điều chỉnh độ nhạy theo các hướng dẫn sử dụng loại cũ.


    Chống lại mọi phương thức tấn công phá hoại kiểu tạo mặt nạ che khuất (advanced anti-masking)
    Anti-masking chống phá hoại chuẩn quốc tế Grade 3

    UTCFS luôn cung cấp cho thị trường sản phầm PIR với công nghệ hiện có tốt nhất để đạt được hiệu suất cao nhất về chống lại các phương thức tấn công bằng mặt nạ (che khuất mặt kính) chống lại mọi kiểu phá hoại đã được biết . Đầu dò của UTCFS có chức năng Anti-masking cung cấp sự bảo vệ mạnh mẽ chống lại mọi nỗ lực phá hoại theo kiểu mặt-nạ tuân thủ tiêu chuẩn Grade 3 quốc tế, bao gồm khả năng miễn dịch với các hình thức chiếu sáng từ đèn chiếu,đèn pin và ánh sáng từ môi trường xung quanh .

    PIR của UTCFS sử dụng công nghệ đã được cấp bằng sáng chế của Active Infra Red (AIR) công nghệ để cung cấp sự bảo vệ tốt nhất chống lại những nỗ lực phá hoại kiểu anti-masking. PIR series EV100 mở rộng về công nghệ này với cải tiến thuộc thế hệ thứ tư của công nghệ AIR với bằng sáng chế trực thuộc  UTCFS.

    Công nghệ mới này cung cấp khả năng bảo vệ không chỉ riêng bên ngoài nhưng đồng thời bên trong các đầu dò PIR được cung cấp một mức độ an toàn cao hơn so với yêu cầu của EN50131 tuân thủ chuẩn Grade 3 ( tải về xem tập tin Anh-ngữ đính kèm về Grade 3 ở cuối bài ). Điều này cho phép bảo vệ tuyệt đối chống lại nỗ lực phá hoại như phun,xịt các dung-dịch,tạp chất nhằm che khuất bao gồm các kiẻu tấn công bằng ánh sáng để thâm nhập vượt qua phạm vi kiểm soát của thiết bị. PIR sẽ phát hiện sự đa dạng rộng nhất của các tài liệu, thuốc xịt và chất bôi trơn và sẽ kích hoạt với bất kỳ tình trạng có sự thay đổi nào khác lạ bằng cách sử dụng sự hướng dẫn từ các nguồn ánh sáng qua các rãnh trượt làm đổi hướng tia hồng ngoại trên mặt kính.

    PIR EV100 có khả năng tự chẩn đoán ổn định hay không bao gồm hiện trạng hoạt động , chu kỳ thử nghiệm dạng Pyro và mạch kiểm soát Anti-masking trên một cơ sở thường xuyên đảm bảo để EV100 luôn luôn hoạt động một cách chính xác và không bị phá hoại.

    Hệ thống báo động GSM có thật sự an toàn so với loại dùng điện thoại bàn?

    Hiện nay , khi chọn dùng các hệ thống báo động người dùng đang có xu hướng nghiêng về hệ thống báo động GSM dùng SIM điện thoại di động thay cho hệ thống báo động PSTN là dùng điện thoại dây ( hữu tuyến,điện thoại bàn). Một sự giải thích đơn giản nhất là đường dây điện thoại hữu tuyến “dễ” bị kẻ gian cắt đứt và vô hiệu hoá các cuộc gọi điện ra ngoài để “thông báo bị đột nhập” khi có báo động.

    Cách suy nghĩ và ưa chuộng như trên cũng dễ hiểu vì những ưu điểm là không cần có dây nối của hệ thống báo động GSM , và như vậy có thể nói rằng kẻ gian vô phương ngăn chận các cuộc gọi điện thông tin báo động. Theo tính chuyên nghiệp thì lại không phải như vậy.Nhìn chung các hệ thống báo động ,báo cháy chuyên nghiệp đều dùng hệ PSTN  là điện thoại có dây để gọi điện thông tin khi có sự kiện báo cháy  báo động.Mặc dù các nhà sx làm ra sản phẩm phải theo thị hiếu và để đáp ứng theo thiết kế mới hơn của người dùng, các nhà sx hệ thống báo động chuyên nghiệp cũng đều đưa ra thêm kiểu mẫu hệ thống với tính năng gọi điện dùng hệ GSM , nhưng rất chú trọng đến phần ăng-ten kèm theo để tăng tối đa hiệu suất phát-thu và chống nhiễu.(hình minh hoạ ăng ten của NX-7002 và AD LX20 GSM module)

    Căn cứ theo các tài liệu và đúc kết chuyên nghiệp của các hiệp hội chuyên về an toàn an ninh thì khả năng bị kẻ gian vô hiệu hoá hệ thống báo động GSM cao gấp đôi hệ thống báo động PSTN.Việc vô hiệu hoá hệ thống báo động GSM (dùng SIM) rất đơn giản do 2 yếu tố chính :

    1. Dùng máy làm nhiễu sóng ( gọi là phá sóng GSM )Portable Quad band Mobile jammer ,chỉ cần loại thiết bị dùng cho cá nhân cầm tay công suất nhỏ dưới 1 Watt.
    2. Hệ thống báo động GSM sử dụng ăng-ten loại thông thường ,không phát huy được các khả năng chống nhiễu sóng và điều còn lại là việc lắp đặt chưa hoàn toàn đúng qui cách.

    he thong bao dong gsm chuyen dung

    Antoanvn đưa ra bài viết này với lời khuyên cụ thể nhằm bảo đảm việc sử dụng hệ thống báo động hiệu quả. Nếu vì một lý do nào đó mà,  không muốn dùng hệ thống báo động PSTN ( gọi điện ra bằng đừơng dây điện thoại để bàn loại hữu tuyến) hoặc đã trang bị hệ thống báo động GSM thì cần lưu ý các điểm yếu và thiếu sót đang nêu ra trong bài viết, để bổ sung ngay nhằm an tâm hơn và hệ thống báo động đang dùng sẽ đảm bảo an toàn an ninh thật sự .

    Bài viết bao gòm các đề mục như sau :

    1. Tìm hiểu về những thiếu sót khi dùng hệ thống báo động GSM
    2. Tổng quan về thiết bị gây nhiễu và phá sóng vô tuyến đa hệ Cell/mobile Jammer
    3. Cải thiện việc tiếp nhận tín hiệu GSM/GPRS trong các ứng dụng M2M
    4. Nói về kỹ thuật lắp đặt ăng ten
    5. Ăng ten cao cấp GSM YAGI Oscar 16
    6. lời khuyên để tránh bị phá sóng GSM và Mức độ an toàn của hệ thống báo động GSM và PSTN

    ăng ten thường lắp sẵn trên hộp trung tâm các hệ thống báo động GSM .

    1 . Tìm hiểu về những thiếu sót khi dùng hệ thống báo động GSM.

    Đề cập đến các hệ thống báo động GSM , dùng SIM điện thoại di động để goi điện ra khi có hệ thống báo động có đột nhập , ngoài ưu điểm là không cần dây nối và suy luận là không bị kẻ gian “cắt đường dây điện thoại” thì yếu điểm của GSM lại là việc rất dễ bị nhiễu sóng nguyên tắc truyền phát phải nằm trong phạm vi tầm nhìn ( là hai bên phát và thu phải nhìn thấy nhau ). Mặc dù hệ GSM được truyền sóng tín hiệu theo dạng “ra không khí” ( q ), nhưng sư thật thì tín hiệu truyền phát và tiếp nhận đến điện thoại di động (hoặc đến máy báo động GSM) là các tính hiệu dội-hắt lại qua nhiều bề mặt nên khi đến nơi sẽ rất yếu .Nhờ các trạm truyền phát BTS đặt khắp nơi nên các điện thoại GSM hiện nay mới hoạt động xuyên suốt.(xem thêm phần nguyên tắc truyền phát sóng tín hiệu GSM).

    Việc thiếu sót trong thiết kế ăng-ten dùng trong các hệ thống báo động GSM cho gia đình cũng làm giảm hiệu suất hoạt động , nhà sx sợ mất thẫm mỹ và lắp đặt rườm rà nên đa phần dùng ăng-ten loại thông thường không phát huy được tính năng chống nhiễu như các ăng-ten loại tốt hơn.Người dùng khi lắp đặt hệ thống báo động vô tuyến thường xuyên chọn vị trí không đúng ( chỉ theo sở thích nội thất) bị các đồ vật gia dụng hoặc thiết bị điện khác che chắn làm suy giảm mức độ  truyền nhận.


    2. Tổng quan về thiết bị gây nhiễu sóng ,ngăn chận sóng Mobile Jammer GSM

    Thiết bị Portable Mobile Jammer  multiband là công cụ ngăn chặn tín hiệu , gây nhiễu sóng đa tần, chủ yếu tác động đến GSM/GPRS và có khả năng gây nhiễu đồng thời lên những phạm vi tần số khác nhau .Jammer Multi-band  còn có khả năng ngăn chặn các hệ thống theo dõi định vị GPS và các loại máy móc khác liên quan của điện thoại di động cùng một lúc.

    Thiết bị jammer loại cá nhân cầm tay (hình minh hoạ) có loại dùng cho một tần số GSM duy nhất và loại đa tần có thể tác động đến 4 tần số cùng lúc.Xem xét theo cách đơn giản nhất  là số lượng ăng-ten lắp trên jammer biểu hiện mỗi ăng -ten tác động đến một tần số.Loại cá nhân cầm tay thông dụng có thể ngăn chận phạm vi bán kính 10-15 mét ,được coi là đầy đủ khả năng để ngăn chận sóng đến một vị trí  một địa chỉ nhà xác định. Với thiết bị jammer cá nhân này ,nếu máy báo động đã dùng ăng-ten cao cấp,lắp đặt ra ngoài không gian có khả năng tránh được các sóng nhiễu và tiếp nhận được việc liên lạc với mạng đtdđ chủ .

    Nguyên tắc truyền sóng và gây nhiễu phá sóng có thể hiểu đơn giản theo hình minh hoạ. Một trong những yếu điểm của việc truyền sóng vô tuyến hệ GSM ( đã đề câp ) là sóng thu-phát thẳng theo tầm nhìn , do vậy từ một tư gia,văn phòng cty đến trạm truyền phát của mạng điện thoại di động GSM gần nhất cũng ít khi tiếp sóng theo đường thẳng mà phải tiếp nhận qua nhiều bề-mặt dôi-hắt lại .Từ nguyên nhân này,thiết bị jammer phát huy thế mạnh là phát sóng gây nhiễu bao trùm và mạnh mẽ hơn nhiều lần các sóng dôi lại của mạng chủ điện thoại di động, kết quả là làm cho các máy móc dùng GSM trong khu vực này hoàn toàn bị vô hiệu hoá, (nhận biết bằng việc không hiển thị cột sóng trên điện thoại di động của người dùng trong khu vực – )

    .

    Với các thiết-bị  jammer loại công suất cao 2Watt đến 10 Watt (tổng các bằng tần) , phạm vi làm nhiễu và chặn sóng đến 30 mét , do vậy việc tác động làm cho hệ thống báo động GSM không kết nối được với mạng chủ ,không thể liên lạc cuộc gọi ra ngoài là điều chắc chắn .

    Thiết bị gây nhiễu phá sóng GSM jammer dùng cho cá nhân còn có các loại mới sx năm 2012 với kiểu mẫu Không gắn ăng ten bên ngoài ( ăng-ten chìm nằm bên trong) để tránh sự chú-ý khi thao tác ở các nơi công cộng.

    3. Cải thiện tiếp nhận tín hiệu GSM / GPRS trong các ứng dụng M2M

    GSM Yagi antenna Oscar 16, ăng-ten trang bị gắn ngoài trời cho các khu vực quan trọng cho ngân hàng…

    Một ăng ten GSM hoặc GPRS  truyền-phát trên các tần số 850, 900, 1800 và 1900MHz , goị là Quad band và còn có các tần số khác không cần nêu ra. Nhắc lại, về quy tắc  truyền-phát về các tần số hiểu đơn giản có nghĩa là các thiết bị (vô tuyến) không dây nối phát sóng ra theo một đường thẳng, phải theo cơ bản là hoạt động chỉ nội phạm vi trong tầm nhìn ( hai bên nhìn thấy nhau). Mặc dù tín hiệu phát sóng vô tuyến có thể dội lại và như vậy sóng di chuyển qua lại các bề-mặt vật liệu nhất định, do vậy việc sử dụng thực tế là làm sao để sóng có thể phát ra và thu-nhận trong tầm nhìn là quy tắc đầu tiên . Hiển nhiên theo thực tế là đặc biệt chú trọng vào ăng-ten để nhận hoặc truyền các sóng tín hiệu,chứ không phải là các mô-đun vô tuyến (không dây).

    Chướng ngại vật nếu có đặt giữa các trạm phát và ăng-ten sẽ hấp thụ các sóng tín hiệu theo các mức độ khác nhau. Ví dụ như một tờ giấy đặt giữa máy truyền-phát và các ăng-ten thu-nhận trong một môi trường GSM hầu như không có tác dụng, tuy nhiên nếu một ăng-ten đặt bên trong một tòa nhà hoặc khu vực có vách hoặc vật liệu bao quanh bằng kim loại, (tác động )hiệu ứng sẽ rất ấn tượng . Tương tự như vậy, một trở ngại do địa lý như là một ngọn đồi cao nằm giữa sẽ chặn một tín hiệu vô tuyến GSM/GPRS từ trạm phát sóng ra nơi ăng-ten thu-nhận tín hiệu đặt ở bên ngoài .

    Một cách đơn giản nhất để tăng hiệu suất ,vượt qua các chướng ngại vật nếu có trong môi trường ,không gian đang truyền-phát sóng là nâng cao ăng-ten để tăng khả năng bức xạ. Nhiều loại thiết bị hiện nay  bán ra có thiết kế với ăng-ten GSM/GPRS được cung cấp kèm theo với độ cao khác nhau và cáp dài ngắn khác nhau;  thiết bị dùng cho các công ty ,văn phòng cao cấp các ăng-ten của máy phát được cung cấp với độ dài cáp lên đến 15 mét. Điều này sẽ cung cấp cho một phạm vi lớn hơn theo nhu cầu mà không cần tăng công suất , lắp đặt các ăng-ten cao lên so với mặt đất , càng cao càng tốt và tốt hơn hết là lắp đặt ăng-ten bên ngoài của một tòa nhà là hiệu quả nhất cho nhu cầu sử dụng vô tuyến.

    lưu ý :  ít dây cáp ( cáp ngắn hơn) có nghĩa là sự mất mát của tín hiệu vô tuyến RF nhỏ hơn ( ít hơn ) là kết quả  để khi xác định độ dài  dây cáp và ăng ten.

    4. Nói về lắp đặt ăng ten cho hệ thống báo động GSM đúng kỹ thuật :

    Khi xác định cho một văn phòng hay ăng-ten của trạm máy phát , kỹ sư hay ktv cần phải đảm bảo rằng cấu hình ăng ten, dây cáp và các kết nối chỉ cho phép với ( tối ưu cho chiều dài dây cáp ) trở kháng 50 Ohm .Dây cáp bọc giáp (coaxiable) có mức độ suy giảm tín hiệu vô tuyến RF khác nhau ,tuỳ thuộc vào loai cáp bọc giáp chọn dùng đúng chủng loại không cần dư thừa hoặc thiếu ,có thể dùng thêm bộ điều hợp RF hoặc cáp liên kết trong dòng.

    Trong khi lắp đặt các thiết bị truyền phát sóng cho hệ thống báo trộm báo cháy GSM ,thì  việc xem xét về ăng ten là rất quan trọng cùng với độ dài dây cáp đã lựa chọn sẽ quyết định cho sự thành công hay thất bại của một hệ thống trong lĩnh vực này. Điều này thường bị bỏ qua đối với các bộ báo động gia đình.

    Ngoài việc dùng ăng-ten chất lượng hơn như đã thấy ở module GSM NX-7002 ( Alpha 1 antenna) thì với một hệ thống báo động GSM đang dùng bất kỳ ,thường kèm theo là ăng-ten Oscar 1 cần lắp đặt ăng-ten đúng kỹ thuật như trong hình minh hoạ , thay vì lắp ngay lên bên trên hệ thống báo động.

    • Chọn dây cáp từ 2,5m đến 5m để đưa ăng-ten ra phía ngoài ,càng gần với không gian ngoài trời càng tốt . Ăng-ten cho hệ thống báo động GSM thường là loai Oscar 1 , cần lắp đặt cách ra khỏi vách tường một khoảng , nhằm phát huy tối đa việc thu phát và chống nhiễu .

    5. Ăng-ten cao cấp ngoài trời Osar 16 GSM Yagi antenna

    Với những cty,những khu vực quan trọng đòi hỏi việc gọi điện ra ngoài khi có báo động là yếu tố “sống còn” mà đang dùng hệ thống báo động có chức năng GSM .Một cách tốt nhất để loai trừ việc phá sóng,làm nhiễu sóng ,ngăn ngừa các nguy cơ mất sóng tín hiệu thì trang bị một ăng ten lắp đặt ngay ngoài trời như Oscar 15 hoặc 16 GSM multiband Yagi antenna của hãng Siretta ( hoặc Gsm yagi của các hãng khác).